Tên: thầy giáo làng
Số Bài Post :129 Số bài - 65%
Tên: hoanganh
Số Bài Post :39 Số bài - 20%
Tên: dnk2011
Số Bài Post :18 Số bài - 9%
Tên: Old
Số Bài Post :7 Số bài - 4%
Tên: cogiaolang
Số Bài Post :4 Số bài - 2%
Tên: Admin
Số Bài Post :3 Số bài - 2%
Các bài gửi mới nhất Reload
Thủ ảnh tràn lề
Đang tải dữ Liệu
Tình nghĩa trong ca dao
Đang tải dữ Liệu


Share | 
 

 Cảm nhận về bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
thầy giáo làng

avatar

Tổng số bài gửi : 129
Join date : 21/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Cảm nhận về bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du   Thu Nov 24, 2011 9:16 pm


Nguyễn Du đến với Tiểu Thanh cũng "định mệnh" như Thuý Kiều đến với Đạm Tiên vậy. Ngày tết Thanh minh mà sao sắc xuân không đến với Đạm Tiên trên nấm cỏ :

Sè sè nấm đất bên đường,
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.


Sắc cỏ vàng úa giữa mùa xuân thật hợp cho cuộc gặp gỡ giữa hai con người có tên trong sổ đoạn trường. Nguyễn Du với Tiểu Thanh không chỉ là sự cách biệt âm dương. Đó còn là sự cách biệt của khoảng cách thời gian vời vợi : ba trăm năm lẻ. Nhưng không phải vì có nhiều khoảng cách mà thiếu đi sự cảm thông. Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du chính là tiếng lòng vượt lên bao khoảng cách để mà cảm thông và thương xót cho một kiếp người.

Nguyễn Du gặp gỡ Tiểu Thanh mà sao giống như cuộc gặp trong định mệnh. Đó là cuộc gặp gỡ giữa hai người tài hoa và đầy duyên nợ với văn chương :

Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn


Cảnh được tả thật hoang tàn. Nguyễn Du nhắc đến một địa danh trong câu thơ thứ nhất : Tây Hồ (Tây Hồ thuộc tỉnh Chiết Giang - Trung Quốc), nơi có núi Cô Sơn, chỗ Tiểu Thanh, một cô gái sắc tài nhưng bất hạnh từng sống. Một sự đổi thay được cảm nhận như là bước đi của lẽ đời dâu bể. Đó là sự đổi thay tuyệt đối từ quá khứ sang hiện tại, từ vườn hoa thành gò hoang và từ có đến không. Từ tẫn trong nguyên bản "hoa uyển tẫn thành khư" gợi sự thay đổi dữ dội, khốc liệt : thay đổi hết, không còn chút dấu vết gì. Hoá ra câu thơ không phải nói lẽ đời dâu bể. Nguyễn Du đang thương cho cái đẹp bị dập vùi. Câu thơ mới chỉ tả cảnh mà đã gợi đến bao nỗi xót xa. Toàn bộ câu chuyện đau thương năm xưa về nàng Tiểu Thanh hiện về. Câu thơ nói chuyện riêng tư nhưng cũng là nỗi lòng nhân thế.

Câu thơ thừa đề mới thực là cuộc gặp gỡ của Nguyễn Du :

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
(Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ)


Khi còn sống, Tiểu Thanh có làm một tập thơ (Tiểu Thanh kí) để ghi lại nỗi xót xa, lẻ bóng của mình. Khi nàng tự vẫn, vợ cả đem ra đốt, may còn lại vài bài. Vậy ra cuộc viếng thương Tiểu Thanh không phải diễn ra tại Cô Sơn. Sự tiếc thương của Nguyễn Du đã vượt qua khoảng cách thời gian, không gian (chỉ viếng nàng qua tập sách đốt còn dang dở). Câu thơ tiếp tục khơi vào số phận bất hạnh của Tiểu Thanh. Phần dư cảo của Tiểu Thanh kí phải chăng cũng chính là cuộc đời tan vụn của nàng ? Tan vụn nhưng chưa vĩnh viễn mất đi, tan vụn nhưng vẫn còn vương lại để mà tiếp tục giận hờn oán trách.

Tiểu Thanh đẹp mà bất hạnh, tài năng mà yểu mệnh. Đó có phải là số mệnh của những kẻ nhan sắc lại tài hoa ? Day dứt ấy ám ảnh Nguyễn Du cả một đời :

Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.


Hai câu thơ khái quát lại nỗi oan trái của Tiểu Thanh. Son phấn là nỗi oan của sắc. Văn chương là nỗi oan của tài. Hai vật vô tri được nhân cách hoá để có thần, có mệnh, làm nên cái thần, cái mệnh của Tiểu Thanh. Tập sách kia dẫu có bị đốt đi nhưng cuộc đời Tiểu Thanh vẫn luôn hiển hiện để mà tiếp tục kêu than, đau đớn thay cho những kiếp như mình. Hai câu thơ viết bằng cảm hứng xót xa và ngợi ca cái đẹp, cái tài.

Bốn câu thơ sau là hai sự đổi thay về ý. Từ thương một người con gái tài hoa, Nguyễn Du thương cho muôn kiếp tài hoa ; từ thương người, Nguyễn Du ngậm ngùi trong nỗi thương mình.

Nỗi oan, nỗi hận của Tiểu Thanh được Nguyễn Du khái quát thành nỗi hờn, nỗi oan của bao kẻ cùng hội cùng thuyền :

Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.


Câu thơ chất chứa bao nỗi hờn kim cổ thành một câu hỏi lớn treo lơ lửng giữa không trung không lời đáp. Tại sao khách má hồng lại gặp nỗi truân chuyên ? Tại sao những kẻ tài hoa lại hay yểu mệnh ? Câu thơ là nỗi lòng nhân thế, là những nghịch cảnh thường gặp trong cuộc đời : khách phong lưu lại phải oan, phải khổ. Câu hỏi như hướng vào vô vọng, không lời đáp. Nỗi hận, nỗi oan cũng vì thế mà càng nhức nhối.

Sau này khi đến thăm chùa Tây Phương, Huy Cận còn nhìn thấy nỗi hờn của thời đại Nguyễn Du hiện trên mặt tượng đầy bế tắc :

Một câu hỏi lớn không lời đáp
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau


Hai câu luận còn là một sự nhập thân. Đó là sự nhập thân tự nguyện của Nguyễn Du với những kiếp tài hoa bạc mệnh : "Phong vận kì oan ngã tự cư". Chữ ngã ở đây có nghĩa là "tôi", "ta". Bản dịch, dịch thành "khách" là chưa đạt. Nhưng cũng phải đến hai câu kết, chủ thể trữ tình mới hiện ra rõ nét :

Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?


Hai câu cuối lạ, chuyển ý bất ngờ, niêm luật không chú trọng mà không lạc dòng cảm xúc. Ý tứ đến cũng tự nhiên và hợp lí. Từ thương người, Nguyễn Du chuyển mạch đến thương mình. Hai câu thơ kết cấu thành một câu hỏi. Câu hỏi hướng đến những điệu hồn tri âm. Không hỏi quá khứ, không hỏi hiện tại, vì quá khứ và hiện tại đều bế tắc. Câu hỏi hướng đến tương lai. Nguyễn Du cũng không hỏi trời, ông hỏi người vì còn mong ở đời có thể tìm thấy những tri âm. Với nàng Tiểu Thanh, ba trăm năm sau đã có một Nguyễn Du "thổn thức", không biết "với mình" liệu ba trăm năm sau có ai biết đến mà cảm thông ? Câu thơ trĩu nặng. Hai từ bất tri (không biết) đầy tủi hổ tưởng có thể buông xuôi. Nhưng câu thơ vẫn là một niềm tin. Nguyễn Du vẫn tin ở nhân tâm của con người.

Thơ hoài cổ thường là tiếng khóc dành cho những cố nhân. Thơ Nguyễn Du không hoàn toàn như vậy. Nhớ đến, thương đến cố nhân, tác giả chạnh lòng thương chính bản thân mình và những người nghệ sĩ. Nó chính là khởi nguồn cho cảm hứng nhân văn cao cả của bài thơ.

Độc Tiểu Thanh kí còn là sự day dứt cả đời của Nguyễn Du. Đó là niềm day dứt của thi nhân về nỗi bấp bênh của thế thái nhân tình. Niềm day dứt ấy phải vì thế mà ôm trọn sự bế tắc của "thời đại Nguyễn Du"



Được sửa bởi thầy giáo làng ngày Sat Nov 26, 2011 9:37 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
thầy giáo làng

avatar

Tổng số bài gửi : 129
Join date : 21/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Cảm nhận về bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du   Thu Nov 24, 2011 9:22 pm


Bài thơ mở ra với cảnh hoang phế :

Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang

Cảm xúc trước những đổi thay xã hội, cuộc đời như chớp mắt thường trở đi trở lại trong thơ văn hậu kì phong kiến. Những “bãi bể nương dâu, bức tranh vân cầu” (Cung oán ngâm khúc), những “cuộc hí trường”, “vũng tang thương”, “lớp sóng phế hưng” (Thăng Long thành hoài cổ, Chơi đài khán xuân Trấn Võ, Chùa Trấn Bắc), rồi “một phen thay đổi sơn hà” (Văn chiêu hồn)... đều là dấu tích của những biến động xã hội. Câu thơ là lời Nguyễn Du than thở cho sự tàn lụi của cái đẹp trong tâm thế chung của thời đại bấy giờ. Hình ảnh “Vườn hoa bên Tây Hồ biến thành bãi hoang hết” (Tây Hồ hoa uyển tận thành khư) cố nhiên chỉ có ý nghĩa tượng trưng, nhưng sao nhức nhối, xót xa... Đó là duyên cớ để sang câu sau bật lên tiếng thổn thức của trái tim nhân hậu Nguyễn Du.

Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.

Đây là dịch thoát nghĩa, nguyên tác “Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”. Qua câu thơ nguyên tác nổi lên một Nguyễn Du với tấm lòng đau xót, một mình trước song cửa, viếng hồn nàng Tiểu Thanh qua một tập sách nhỏ.

Hai câu sau là hình ảnh nàng Tiểu Thanh. Nhắc đến một tài nữ có số phận oan nghiệt, sống trước đó ba thế kỉ, Nguyễn Du chỉ gợi những nét tiêu biểu nhất :


Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương


Nàng Tiểu Thanh tiêu biểu cho những người con gái “hồng nhan bạc mệnh”. Cái chết oan khiên của nàng để thương để tiếc cho bao người. Hơn thế nữa, ở nàng có sự thống nhất giữa vẻ đẹp hình thể và vẻ đẹp tâm hồn. Nàng có nhan sắc, có tài văn chương. Những vần thơ còn sót lại làm rung động trái tim người đọc các thế hệ sau. Tiểu Thanh là hình ảnh lí tưởng của cái đẹp, là biểu hiện cái nhìn tiến bộ của Nguyễn Du về người phụ nữ (hiện thân của cái đẹp hoàn thiện, hoàn mĩ) vốn đã được biểu hiện thành hệ thống trong thơ ông. Từ người ca nữ đất La Thành, người gảy đàn Long Thành rồi Đạm Tiên và cao độ là nàng Kiều. Có cái gì day dứt tmãi trong hai cụm từ đối nhau theo lối lưu thuỷ “liên tử hậu, luỵ phần dư” ? Số phận bi thảm của Tiểu Thanh cùng tập thơ của nàng khiến cho người ta xót thương, nuối tiếc. Câu thơ không chỉ là lòng tiếc thương mà còn hàm ý tố cáo thói tục phong kiến độc ác đã chà đạp lên con người. Hơn thế nữa, hai câu thơ còn là sự khái quát số phận bi thảm của những trang tài tử, những bậc nữ lưu trong xã hội xưa.

Phần sau bài thơ, cùng với sự khái quát được đẩy cao là liên tưởng của Nguyễn Du.

Ông khái quát mối uất hận của Tiểu Thanh không chỉ là của riêng nàng chưa tìm ra lời giải đáp (thiên nan vấn). Nỗi oan kì lạ của những con người phong vận như nàng cũng là nỗi oan của bao người, mà Nguyễn Du vừa quan sát, vừa thể nghiệm :

Cái án phong lưu khách tự mang

“Phong vận kì oan ngã tự cư”, câu thơ nguyên tác dồi dào ý nghĩa. Nguyễn Du khẳng định mình đứng trong số những người tài hoa, phong nhã, mà mệnh bạc. Đọc thơ chữ Hán của ông nhiều lần ta thấy sự khẳng định ấy, nỗi đau ấy :

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên
Hùng tâm, sinh kế lưỡng mang nhiên.
(Tạp thi I)

(Bạc đầu tráng sĩ ngẩng kêu trời
Dũng khí, sinh nhai lỗ cả đôi)


Hay :

Tráng niên ngã diệc vi tài giả
Bạch phát thu phong không tự ta

(Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch)

(Ta cũng tài hao khi tuổi trẻ
Gió thu đầu bạc luống buồn thay)


Chính vì thế hai câu kết bài thơ là một bầu tâm sự, một cái nhìn đau đáu, một câu hỏi cháy lòng :

Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?


Nguyễn Du đau đớn khi nghĩ tới mối hận văn chương, nỗi oan phong vận của mình sẽ bị chôn vùi trong lớp bụi của thời gian. Ông khắc khoải mong chờ một sự cảm thông của hậu thế. Vậy là từ số phận của nàng Tiểu Thanh, Nguyễn Du liên tưởng tới số phận mình xem như người “cùng hội cùng thuyền”. Chiếc gạch nối xuyên thời gian, không gian ấy có ý nghĩa như một yêu cầu phổ quát đặt ra cho mọi dân tộc, mọi thời đại về thái độ nhân hậu, trước hết là sự cảm thông đối với cái đẹp, sự hoàn thiện hoàn mĩ thể chất và tâm hồn con người. Nỗi đồng cảm của các thời đại với nhau. Bài thơ với phương thức trữ tình, giọng thơ chân thành, thông cảm, xót xa có thể xem như một biểu dương, tranh đấu cho một giá trị, một quan niệm nhân văn về người phụ nữ nói riêng và những người tài hoa trong xã hội nói chung.

Bài thơ là lời kí thác tâm sự của Nguyễn Du, con người đầy tài năng, hoài bão lớn mà luôn gặp hoạn nạn, trắc trở trên con đường đời gập ghềnh giữa đêm đen xã hội phong kiến. Con người ấy giàu lòng yêu thương nhân hậu, luôn khao khát sự cảm thông của người đời.

[i]


Được sửa bởi thầy giáo làng ngày Sat Nov 26, 2011 9:38 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
thầy giáo làng

avatar

Tổng số bài gửi : 129
Join date : 21/11/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Cảm nhận về bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du   Thu Nov 24, 2011 9:27 pm



Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
( Kiều )


Nguyễn Du có mối đồng cảm đặc biệt đối với những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh. Một Đạm Tiên, một Thúy Kiều, một “ Long thành cầm giả ca”…đã làm xác động trái tim của nhân loại. Và đây là những giọt nước mắt của thi nhân nhỏ xuống số phận bi thảm của một cô gái tài hoa sống cách nhà thơ ba trăm năm, trong một bài thơ chữ Hán nổi tiếng “ Độc Tiểu Thanh kí”. Ông có nỗi ám ảnh về những kiếp hồng nhan bạc mệnh , về những kiếp nghệ sĩ tài hoa và ông cũng muốn người đời sẻ chia với những kiếp hồng nhan bạc mệnh:

Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có thần chôn vẫn hận.
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?


Có thể là bài thơ được Nguyễn Du viết vào thời gian đi sứ Trung Quốc, nhận đọc được một tập thơ của Tiểu Thanh ( có ý kiến cho rằng không phải là tập thơ mà là một tập truyện viết về Tiểu Thanh ), một người con gái tài sắc mà bất hạnh sống vào đầu đời Minh ( Trung Quốc ). Tiểu Thanh làm lẽ, bị vợ cả ghen bắt ở ngôi nhà riêng trên núi Cô Sơn, cạnh Tây Hồ. Nàng buồn mà chết lúc mới mười tám tuổi. Nàng có tập thơ bị vợ cả ghen đem đốt. Tập thơ còn lại một phần và được người đời chép lại. Tập thơ cháy dở ( hay là đọc truyện mà biết được chi tiết này) của một người con gái bạc mệnh đã xáo trộn tâm hồn nhà thơ:

Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.


Gò hoang chính là núi Cô Sơn, nơi cấm cố nàng Tiểu Thanh. Gò hoang bên cạnh cảnh đẹp Hồ Tây càng gợi nỗi thương tâm của thi nhân . Sự lãng quên của người đời cứ hiển hiện ra đấy. Ngồi bên cửa sổ , nhà thơ thổn thức khi đọc tập thơ ( phần dư cảo ) của Tiểu Thanh mà ông gọi là mảnh giấy tàn ( thực ra do cách hiểu của người dịch mà thành ra “ mảnh giấy tàn” chứ trong nguyên chữ “ thư” có nghĩa là sách, có thể là thơ cũng có thể là truyện ). Văn chương cũng chịu số phận bi đát của hồng nhan. Cũng là mối tình , cũng là kẻ “ cùng hội cùng thuyền”, nhà thơ cảm thấy xót thương cho Tiểu Thanh mà cũng là xot thương cho những kiếp tài hoa bạc mệnh.

Thổn thức trước những vần thơ bạc mệnh, trước kiếp tài hoa xấu số, nhà thơ suy tưởng về thân phận và tài hoa của nàng Tiểu Thanh:

Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương.


Câu thơ “ son phấn có thần chôn vẫn hận” nguyên văn chữ Hán là “ chi phấn hữu thần liên tử hậu”. “ Son phấn có thần” chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết. Trần Trọng San dịch hơi khác Vũ Tam Tập, ông dịch là “ son phấn có tinh anh nên khi chết rồi vẫn còn có người thương xót”. Do câu trúc đa nghĩa của thơ mà có nhiều cách dịch khác nhau như vậy và cũng khiến cho thơ đầy bí mật. trong những vật gắn liền với người con gái, Nguyễn Du đã chọn son phấn và ông đã nhân cách hóa son phấn để suy tưởng. “ Son phấn có thần” chắc phải xót xa vì nó đã gắn bó với người con gái bạc mệnh. Thật ra là một cách nhà thơ thương xót, hận cho Tiểu Thanh. Văn chương làm gì có “ mệnh” mà cũng bị đốt, bị lụy. Từ “ lụy” trong nguyên tác rất hay, diễn tả được nỗi oan của văn chương mà cũng chính là nỗi oan khuất của kẻ tài hoa.

Chuyển sang hai câu luận, nhà thơ triết lí về thân phận bé nhỏ của con người và cảm thấy đau đớn, xót xa cho Tiểu Thanh, cho chính mình:

Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.


Nỗi đau của Tiểu Thanh nằm trong nỗi đau lớn của nhân loại. Mà nỗi hận của người đời xưa nay không thể hỏi trời được:

Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
( Cổ kim hận sự thiên nan vấn)


Câu thơ nguyên tác, với những thanh trắc : ( cổ, hận, sự , vấn ) diễn tả một cách bi phẫn nỗi đau của những kiếp người thấp cổ bé họng. Nguyễn Du đau đớn, căm giận trước sự thất bại của cái THIỆN, cái MĨ trước cái ác. Nhà thơ tự thấy là người cùng hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã:

Cái án phong lưu khách tự mang
( Phong vận kì oan ngã tự cư)


Chữ “ ngã” rất lạ. Nhà thơ đã tự xưng “ ngã” ( tôi) để nhập thân vào với Tiểu Thanh như trong “ Truyện Kiều” để gợi lên những điều nhức nhối của nhân thế.

Đau đớn trước nỗi oan kì lạ của Tiểu Thanh, xót xa trước sự lãng quên của người đời , nhà thơ khóc cho Tiểu Thanh, một co gái tài hoa bạc mệnh hơn ba trăm năm và đặt câu hỏi lớn cho ba trăm năm sau:

Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?


Tại sao lại là “ ba trăm năm lẻ” mà không là con số khác? Là vì nhà thơ đang thổn thức với tập thơ cháy dở của Tiểu Thanh, một nữ sĩ tài hoa cách đó hơn ba trăm năm. Tiểu Thanh bất hạnh, nhưng hơn ba trăm năm sau đã có người chia sẻ. Liệu hơn ba trăm năm sau “ người đời ai khóc Tố Như”? Ai sẽ là người khóc cho con người đang khóc Tiểu Thanh hôm nay? Một lời tự vấn xót xa. Một câu hỏi cho ba trăm năm sau như vậy là vì những điều trông thấy bấy giờ. Cuộc đời đen bạc, quyền sống của con người bị chà đạp. Đâu là người tri âm, tri kỉ? Cô đơn đến tột cùng. Khi thì nhà thơ nhập thân vào với Thúy Kiều “ xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”, khi thì nhà thơ nhập thân với Tiểu Thanh để kêu lên một tiếng xé lòng:

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.


Bài thơ thể hiện tinh thần cao quý của Nguyễn Du. Ông có tình yêu thương mênh mông đối với những kiếp tài hoa bạc mệnh dù là người Việt Nam hay người Trung Quốc. Rồi ông lại tự vận vào mình, thương cảm, xót xa về nỗi cô đơn của mình. Một chữ “ ngã” ( tôi) sừng sững giữa nền văn học phi ngã , chứng tỏ một nhân cách lớn , một tâm hồn lớn.Ông đau đời vì đời chưa thắng được cái ác. Nhưng chính những giọt nước mắt thương đau của ông trên mồ Đạm Tiên, trên mảnh giấy tàn của Tiểu Thanh đã góp phần công phá vào thành lũy của cái ác. Chính vì vậy mà chưa đợi đến ba trăm năm, nhân dân ta và Hội đồng hòa bình thế giới đã kỉ niệm hai trăm năm ngày sinh của nhà đại thi hào ( 1960), thiên hạ đã “ khấp” Tố Như.

Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Cảm nhận về bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du   

Về Đầu Trang Go down
 

Cảm nhận về bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Thầy giáo làng :: Bài học :: Lớp 10 :: Đọc Tiểu Thanh kí - Nguyễn Du-
free counters
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Sosblogs.com